ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

Nhân đầu năm học mới, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa gửi bức thư đầy tâm huyết của mình tới lãnh đạo 63 tỉnh, thành phố trong cả nước với mong muốn tạo tiền đề đáp ứng tốt hơn yêu cầu hình thành lớp thanh niên có năng lực công dân mới.
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Nhân đầu năm học mới, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa gửi bức thư đầy tâm huyết của mình tới lãnh đạo 63 tỉnh, thành phố trong cả nước với mong muốn tạo tiền đề đáp ứng tốt hơn yêu cầu hình thành lớp thanh niên có năng lực công dân mới.

Nhân đầu năm học mới, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa gửi bức thư đầy tâm huyết của mình tới lãnh đạo 63 tỉnh, thành phố trong cả nước với mong muốn tạo tiền đề đáp ứng tốt hơn yêu cầu hình thành lớp thanh niên có năng lực công dân mới.  Chủ đề năm học mới 2000 là: Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục. Phấn đấu giảm tỷ lệ học sinh bỏ học trong cả nước xuống dưới 0,5%. Bắt đầu từ năm học 2009 - 2010, chấm dứt việc dạy học chủ yếu qua đọc - chép (Trang Web báo Dân Trí, ngày 7/9/2009).     

          Trong khuôn khổ một bài báo ngắn, chúng tôi xin có một vài ý kiến về việc đổi mới phương pháp dạy họcđể thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng: Bắt đầu từ năm học 2009 - 2010, chấm dứt việc dạy học chủ yếu qua đọc - chép và các điều kiện để thực hiện việc đổi mới ấy, mong bạn đọc quan tâm và cho thêm ý kiến.

         Quan niệm về việc dạy và học tích cực, ngay từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aristote… đã từng nói đến tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và cũng đã chỉ ra nhiều biện pháp giúp học sinh phát huy tính tích cực nhận thức. Các ý kiến đó là:

          - Trong việc học cần tuân thủ học gắn liền với với tập, với hành ( tức là tư duy) - Khổng Tử.

          - Dạy học không phải là rót kiến thức vào một chiếc thùng rỗng mà là thắp sáng lên những ngọn lửa - Ngạn ngữ cổ Hy Lạp.

          - Học phải đi đôi với hành …

          - Điều chủ yếu không phải là nhồi nhét một mớ kiến thức hỗn độn… mà là phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề (Trích lời căn dặn của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

          Về các phương pháp dạy học tích cực, các nhà sư phạm cổ kim, đông tây đã nghiên cứu, vận dụng và chắc rằng các trường sư phạm hiện nay cũng đã trang bị cho các thày cô giáo giáo học pháp bộ môn. Chúng tôi xin cung cấp thêm một vài tư liệu: 

1. Tìm hiểu một vài phương pháp dạy học tích cực

          1.1. Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề với các đặc trưng là thày hướng dẫn trò tìm ra tình huống có vấn đề, tìm ra các bước hay chu trình giải quyết vấn đề, dạy giải quyết vấn đề và tiếp thu nhận thức trong hoạt động sáng tạo, không áp đặt kiểu đọc - chép bằng nhiều hình thức đa dạng như làm việc theo nhóm, tranh luận, não công, sắm vai, mô phỏng, phát hiện...     

          Vấn đề là một câu hỏi, một bài toán hay một khó khăn cần phải xử lý để giải quyết.

          a. Tình huống - vấn đề: Tâm lý học nhận thức phân biệt tình huống thực hiện với tình huống - vấn đề:

          - Tình huống thực hiện là tình huống trong đó cá nhân đã biết rõ các thủ tục, giải pháp tiến hành và ứng dụng trực tiếp.

  &nbs 2000 p;       - Tình huống - vấn đề là tình huống trong đó cá nhân chưa sẵn có các thủ tục, giải pháp tiến hành:

         + Hoặc do kiến thức cần thiết cho xử lý sai: chủ thể không xây dựng được một biểu tượng của vấn đề.

          + Hoặc kiến thức ứng dụng dẫn tới thất bại: chủ thể đã xây dựng một biểu tượng không hợp lý cho vấn đề. Muốn tìm lời giải, phải xây dựng một biểu tượng mới cho vấn đề (tức là lý luận trên cơ sở mới).

          Trong dạy học, tình huống - vấn đề là tình huống dạy - học mà thày giáo hình dung ra nhằm mục đích tạo ra một không gian tư duy và phân tích xung quanh một bài toán cần giải (hay một khó khăn cần phải vượt qua). Theo cách nhìn này về thuật ngữ, tình huống phải tạo cho học sinh khả năng làm giàu thêm kiến thức, có các cách xây dựng biểu tượng mới, tức là học tập. Vấn đề đối với người dạy là đánh giá đúng khó khăn đưa ra. Với một số học sinh, tình huống chỉ là tình huống thực hiện. Còn đối với số học sinh khác vẫn còn là một vấn đề, và người dạy cần hướng dẫn để định hướng cho học sinh tới mức có thể chuyển thành tình huống thực hiện.

          Tất nhiên, cần đặt vấn đề chuyển giao kiến thức và càng thấy tầm quan trọng của sự trợ giúp về phương pháp luận của thày với trò. Với trò là xử lý vấn đề, tập dượt giải quyết, tức là biến một thủ tục chưa biết và chưa chắc chắn thành một thủ tục đã biết rõ và có khả năng thực hiện. Đó cũng chính là sự tích lũy kinh nghiệm và thực nghiệm lý luận trong tình huống cụ thể, cho tới khi biến thành sự tự động hóa trừu tượng, gần như một thói quen, có thể áp dụng trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

          b. Giải quyết vấn đề: Trong khâu này, hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân.

          Để giải quyết vấn đề, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ cá nhân, niềm tin ở năng lực bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế.

            Người ta nói một cá nhân được đặt trong tình huống giải quyết vấn đề khi đối mặt với tình huống mà cá nhân đó chưa hề gặp trước đó và phải tìm cách làm chủ được tình huống đó để có thể biến được từ tình huống vấn đề sang tình huống thực hiện.

            c. Các đặc trưng của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề      

            - Đặc trưng cơ bản của phương pháp giải quyết vấn đề trong học tập và nghiên cứu là tình huống có vấn đề.

          - Đặc trưng thứ hai là chu trình giải quyết vấn đề được chia thành những bước, những giai đoạn có tính mục đích chuyên biệt.

          - Đặc trưng thứ ba của dạy và học giải quyết vấn đề là sự tiếp thu tri thức trong hoạt động tư duy sáng tạo (không phải theo kiểu áp đặt , thụ động đọc chép).

           - Đặc trưng thứ tư là học, nghiên cứu theo cách giải quyết vấn đề gồm nhiều hình thức tổ chức đa dạng (như làm việc theo nhóm nhỏ, tranh luận, não công - brain storm, sắm vai - giải quyết xung đột - mô phỏng, tập trình bày báo cáo trước lớp...).

        1ffe ;   d. Nămyếu tố cần bồi dưỡng cho học sinh

          Theo cuốn sách dạy các kỹ năng tư duy, người có khả năng giải quyết vấn đề phải có 5 yếu tố cần thiết để áp dụng cho mọi hoàn cảnh. Đó là:

       I = Khả năng xác định vấn đề

       D = Định nghĩa được vấn đề chính xác

       E = Tìm kiếm những chiến lược, giải pháp có thể

       A = Áp dụng và lựa chọn các chiến lược, giải pháp

       L = Xem xét, đánh giá hiệu quả.     

          Các chữ cái này là các chữ đầu của các từ tiếng Anh, được ghép lại thành IDEAL - một thuật ngữ dùng để nói đến một người nào đó có khả năng giải quyết vấn đề. Vì vậy, thông qua việc dạy học giải quyết vấn đề, tùy theo bậc học, thày giáo cần thường xuyên chú ý rèn luyện cho học sinh các yếu tố trên. 

          1.2. Phương pháp giáo dục khám phá:Phương pháp giáo dục khám phá làm cho học sinh phát huy tính chủ động tức là khơi dậy ở trẻ óc sáng tạo, đó là một phương pháp giáo dục tích cực. Ngược lại, phương pháp truyền thụ một chiều kiểu đọc - chép hay chép - chép là một phương pháp thụ động thường bóp nghẹt năng lực sáng tạo của người học. Phương pháp giáo dục khám phá còn mang tên phương pháp giáo dục quy nạp: thày giáo tìm cách giúp cho học sinh tự khám phá các sự kiện, khái niệm, quy tắc, định luật, nguyên lý... mà người thày muốn truyền đạt. Phương pháp giáo dục làm cho học sinh phát huy được tính chủ động, sáng tạo, nắm vững các yếu tố cơ bản, tự cấu trúc kiến thức và nhớ lâu hơn. Không nên nhầm lẫn phương pháp giáo dục khám phá với phương pháp vấn đáp thông thường, đó chỉ là sự khám phá thụ động. Để khuyến khích trẻ khám phá cần lưu ý các điểm sau:

          - Kích thích khám phá: Các bước này có thể đan xen nhau và trẻ có thể bắt đầu hoặc kết thúc quá trình ở bất kỳ giai đoạn nào. Những kích thích cho tư­ duy sáng tạo bắt nguồn từ tính tò mò, hay thắc mắc và thích hỏi. Các loại câu hỏi thư­ờng nảy sinh trong đầu trẻ em như­ những kích thích cho khám phá thường là: Cái gì? Như thế nào? Vì sao?...

          - Các cách gợi mở câu hỏi:Tự đặt câu hỏi cho mình, tìm sách, đồ vật có kích thích tính tò mò, khuyến khích trẻ tìm và phát hiện các đồ vật lạ, động viên trẻ đ­ưa ra những câu hỏi mở.

          - Các cách phản hồi:Có những câu hỏi rất khó trả lời, có những câu hỏi không bao giờ đư­ợc đặt ra và có những câu hỏi không thể trả lời đ­ược. Cách phản hồi của chúng ta phụ thuộc vào quan hệ của ta với đứa trẻ và nhu cầu của thời điểm đó. Cách phản hồi tích cực nhất là: Nào - chúng ta - cùng - tr 2000 ả lời - xem.

          - Khám phá:Theo tư­ duy sáng tạo là căn cứ vào những gì đã biết để tìm ra những gì chưa biết. Trẻ em cần đư­ợc giúp đỡ và hướng dẫn để có khả năng khám phá, đôi khi phải xem xét lại từ đầu tất cả những gì mà các em đã tiếp nhận một cách tự nhiên. Có nhiều nguyên tắc và kỹ năng có thể áp dụng cho khám phá như: đa dạng hóa t­ư duy, có xét đoán khác nhau, phát huy nỗ lực, bố trí thời gian, khích lệ tham gia.

          - Để sự khám phá vấn đề thuận lợi, cần gợi ý các em xác định vấn đề hay nhiệm vụ,thu thập thông tin,làm cho sự vật xuất hiện rõ ràng...Chúng ta cần phải tạo điều kiện để trẻ em hiện thực hóa việc khám phá và t­ư duy sáng tạo bằng các hoạt động.

          - Tổng kết:Khi một ý tư­ởng đã đ­ược hiện thực hóa, một vấn đề đã đư­ợc giải quyết, một khám phá đã kết thúc, tiếp đó là việc đánh giá và tổng kết bằng những câu hỏi: Chúng ta đã làm đư­ợc gì? Kết quả như­ thế nào? Ta đã đạt đ­ược mục đích chư­a? Ta đã học đư­ợc gì?

          1.3. Phương pháp dạy và học trên dự án (đề án), mục tiêu của phương pháp này là để học sinh biết cách tìm kiếm câu trả lời khi phải đối mặt với một nhiệm vụ nào đó; trong cách học này, thày giáo không còn là tâm điểm của lớp học. Học sinh phải dựa vào sự hiểu biết của mình, của bạn bè, dựa vào thí nghiệm hay các nguồn thông tin để tự phát hiện và giải quyết vấn đề. Kiểu giảng dạy này thường được gắn với tên của Dewey và các học trò của ông là Kilpatrick, Decroly. Với Dewey, dự án là vừa học vừa làm (learning by doing), là phương pháp có xu hướng thực hành chức năng - học theo xu hướng tạo dựng dựa trên sự tham gia tích cực trong việc giải quyết vấn đề và động viên tư duy phê phán của học sinh. Một dự án cho phép hoạt động tức thì và có phối hợp trong một nhóm nhỏ học sinh tự nguyện cùng làm theo hệ thống về một đề tài do các em tự chọn: Tùy theo bậc học và khối lượng kiến thức học sinh có khả năng tự lập ra một lộ trình và thực thi qua sự phân công trách nhiệm hoàn thành công việc của từng dự án nhỏ ở nhiều mảng kiến thức khác nhau để cùng góp phần hoàn thành đề án chung. Dewey nhấn mạnh: Thực tiễn quan trọng hơn lý thuyết, học sinh có thể học thông qua tư duy và tranh luận, bằng cách giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tế.

          Phương pháp dạy học theo dự án có ưu điểm là nâng cao năng lực chủ động của học sinh, giúp học sinh có cơ hội kiểm soát được việc học của mình, có nhiều dịp cộng tác với bạn học làm tăng tính chủ động đề xuất các ý kiến, tăng tư duy phê phán và hứng thú trong học tập của học sinh. PPDH theo dự án thường theo quy trình sau:

          - Đề xuất chủ đề phù hợp với học sinh (lựa chọn dự án hay các tiểu dự án cho các nhóm học sinh gắn với môn học hay liên môn học).

- Xác định mục tiêu và nhiệm vụ chung của dự án và các tiểu dự án nhằm phục vụ cho mục tiêu chung.

- Lập kế hoạch và lộ trình thực hiện dự án.

- Tổ chức thực hiện dự án (có thể chia dự án thành nhiều nhiệm vụ để khuyến khích nhiều học sinh cùng cộng tác trong các tiểu dự án như các nhóm học tập).

- Trình bày sản phẩm của các tiểu dự án (mục tiê 2000 u của các tiểu dự án, các tư liệu và ý kiến đề xuất, các giải pháp và kết quả...).

- Các câu hỏi, ý kiến của các nhóm khác, trả lời và phản biện của nhóm trình bày...

- Đánh giá, kết luận của thày giáo, cô giáo về các tiểu dự án và dự án chung.  

   Ngày nay, khái niệm phương pháp sư phạm theo dự án đã mở rộng ý nghĩa hơn. Khái niệm về dự án có cả trong nghiên cứu giáo dục, đào tạo nghề và đào tạo truyền thống, kỹ thuật tìm việc làm, đào tạo lại nghề, đào tạo cạnh xí nghiệp, hợp tác giáo dục quốc tế, các đoàn trợ giúp nhân đạo...

          Theo báo Seattle Times, ba đại gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin là Microsoft, Cisco và Intel đã quyết định hợp tác để xây dựng một giáo trình đào tạo kỹ năng của thế kỷ 21 cho các trường học toàn cầu. Anoop Gupta, giám đốc chương trình Tiềm năng không giới hạn của Microsoft cho biết các công ty này sẽ tài trợ một dự án phát triển những phương pháp giảng dạy và đánh giá học sinh về kỹ năng tư duy, hợp tác, giải quyết vấn đề, giao tiếp... Trước mắt ba công ty này sẽ tài trợ vốn trong ít nhất ba năm cho một lực lượng đặc nhiệm có nhiệm vụ xác định rõ ràng các kỹ năng thế kỉ 21, tạo ra môi trường học tập sử dụng công nghệ giao tiếp và thông tin, cũng như truyền tải kiến thức đến toàn cầu (Báo Tuổi Trẻ ngày 15 - 1 - 2009).   

          Có thể kể thêm các phương pháp dạy

 học tích cực khác: Phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ, phương pháp dạy học tương tác, phương pháp dạy học kiến tạo, phương pháp dạy học phân hóa...

Bạn đọc có thể tìm hiểu hai loại phương pháp giáo dục thụ động và giáo dục tích cực, qua bảng sau:

 

Bảng so sánh Sư phạm thụ động và Sư phạm tích cực
Thành phần
Giáo dục thụ động
Giáo dục tích cực
Mục tiêu

Đào tạo những con người thụ động, tuân theo mệnh lệnh, kinh viện khuôn mẫu.

Đào tạo những con người năng động sáng tạo, chủ động thích ứng với thực tiễn.

Nội dung

- Dạy cái mà ngành giáo dục có khả năng, ít quan tâm đến nhu cầu thực tiễn và xã hội.

- Nặng về lý thuyết, kinh viện, ít thực hành.

- Dạy cái mà xã hội cần, nhà trường gắn liền với thực tiễn và xã hội.

- Học đi đôi với hành.

Hình thức

- Lớp đông học sinh.

- Không khí lớp học nghiêm trang, long trọng, nhiều khi căng thẳng.

-Thường chia nhóm, lớp dưới 30 học sinh.

- Không khí lớp học thường thoải mái.

- Học vui - vui học (nhất là các lớp tiểu học).

Phương pháp

- Chủ yếu là độc thoại, thày giảng, đọc, ít phát vấn.

- Trò nghe, ghi chép, tiếp thu thụ động, ít phát biểu.

- Đối thoại kiểu hỏi đáp giữa giáo viên và từng học sinh.

- Không chú ý dạy cách học.

- Thày giảng ít, chủ yếu nêu vấn đề; tổ chức, hướng dẫn đàm thoại.

- Trò động não, chủ động tìm kiến thức mới.

- Khuyến khích học sinh giúp nhau giải đáp, thày tổng kết, nhấn mạnh các kiến thức chủ chốt.

- Chú ý dạy cách học, cách tự học.

Quan hệ
Thày - Trò

- Thày trò cách bức, thày có nhiều quyền uy, trò sợ sệt, tuân thủ.

- Thày chủ động dạy, trò thụ động học.

- Thày hay phê phán, khen chê làm học sinh cụt hứng, bị động.

 

- Thày trò gần gũi, thân mật; thày có thể ngồi gần hoặc lẫn với trò.

- Thày tạo không khí năng động, học sinh hứng thú tham gia bài học.

- Thày thường lắng nghe, tôn trọng ý kiến học sinh, không vội phê phán dù đó là ý kiến chưa đúng.

Kết quả

- Thuộc bài, đúng ý thày.

- Có thêm kiến thức mới, nhưng tư duy sáng tạo không được rèn luyện.

- Thày ít lắng nghe học viên, nên thiếu các thông tin phản hồi, do vậy không đổi mới được phương pháp.

- Học viên tiếp thu theo mức độ của mình nhưng chắc chắn và ứng dụng được.

- Nhờ việc tự đặt và giải quyết vấn đề thường xuyên nên tư duy sáng tạo được trau dồi.

- Thày học được nhiều và luôn cải tiến đổi mới phương pháp do lắng nghe ý kiến học sinh.

(Theo cuốn Khơi dậy tiềm năng sáng tạo - NXB Giáo dục - 2004 - GS Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên)

2. Các điều kiện để thực hiện phương pháp dạy học tích cực

          Để thực hiện các phương pháp dạy học tích cực trên cần những điều kiện sau:

          2.1.Cần xác định rõ ràng mục tiêu giáo dục hiện nay để trả lời câu hỏi: Tại sao phải đổi mới?

          Nhà trường và các thày cô giáo muốn đào tạo học sinh để tạo tiền đề đáp ứng tốt hơn yêu cầu hình thành lớp thanh niên có năng lực công dân mới như chỉ đạo của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân thì trước hết, nhà trường và các thày cô giáo phải quán triệt rõ ràng mục tiêu giáo dục: Chúng ta đnh đưa ra những mẫu người có những kỹ năng và phẩm chất gì trong tương lai?Vấn đề này chúng tôi đã đề cập trong bài Các cơ sở để xác đnh mục tiêu giáo dục hiện nay (Bản tin 2000 GDTX và Tại chức, số 22, tháng 9 - 2009). Theo chúng tôi, có thể tóm tắt mục tiêu giáo dục hiện nay là: Nhà trường cần phải hình thành và phát triển được nền tảng tư duy của con người trong thời đại mới là năng động, sáng tạo, có được các kỹ năng của thế kỉ XXI. Sở dĩ nói như vậy vì nếu hỏi các nhà quản lý và các thày cô giáo hiểu và giải thích về mục tiêu giáo dục hiện nay như thế nào, đặc biệt nếu hỏi về các kỹ năng kiến thức và tư duy trí tuệ học sinh cần phải đạt được là gì thì chắc chắn sẽ có rất nhiều cách hiểu và giải thích rất khác nhau. Điều đó chứng tỏ mọi người và xã hội hiểu về mục tiêu của giáo dục chưa thống nhất .

         Vì vậy chúng tôi mong mỏi là trong dự

thảo sửa đổi Luật Giáo dục sắp tới sẽ đề cập rõ ràng đến mục tiêu giáo dục để tất cả các cấp quản lý giáo dục, tất cả các thày cô giáo và toàn xã hội cùng thống nhất hiểu đúng đắn về mục tiêu giáo dục và các cấp giáo dục, tất cả các trường học và toàn xã hội đều nhắm tới thực hiện được mục tiêu ấy, đặc biệt là thầy giáo, cô giáo phải đổi mới phương pháp để thực hiện được mục tiêu giáo dục.

          2.2. Cần xác định được nội dung chương trình hợp lý, không quá tải đáp ứng được mục tiêu giáo dục để toàn ngành giáo dục, tất cả các trường học và thày cô giáo thay đổi phương pháp dạy và học theo hướng tích cực.

          2.3. Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, cũng còn tùy thuộc nhiều vào các thành tố khác như sự đầu tư thực sự cho giáo dục (ví dụ trang thiết bị và cơ sở hạ tầng cho các trường phục vụ việc đổi mới phương pháp...), đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, vận dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, đổi mới các quan điểm về đánh giá thi cử (không quá nặng nề về bằng cấp, điểm số...), nâng cao trình độ và năng lực quản lý giáo dục ở các cấp... Tất cả các thành tố đó đều cần được quan tâm giải quyết thỏa đáng để phục vụ cho mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục.

 

 

Bài viết liên quan